MINH HỌA TRUYỆN KIỀU (P2)

Nhan đề gốc của “Truyện Kiều”

Thi hào Nguyễn Du khi sáng tác “Truyện Kiều” đã đặt tên cho tác phẩm nổi tiếng này là gì? Cho đến nay, giới nghiên cứu Kiều vẫn còn phân vân, chưa dứt khoát hẳn một nhan đề nào là khởi đầu do cụ Nguyễn Du đặt. 

bia-kim-van-kieu-binh-minh-nam-1965

Người thì cho là Kim Vân Kiều tân truyện hay Kim Vân Kiều truyện, người khác lại cho là Đoạn trường tân thanh, chưa kể các tên gọi khác như Kim Túy tình từ… sau khi cụ Ngô Đức Kế(1) bài bác tên gọi “Kim Vân Kiều”, Trần Trọng Kim đã gọi khác đi là Truyện Thúy Kiều, Hồ Đắc Hàm gọi là Kiều truyện dẫn giải, Phúc An gọi là Kim Kiều tình tự, Tản Đà gọi là Vương Thúy Kiều chú giải tân truyện… rồi sau này tên gọi đơn giản “Truyện Kiều”(2) như Phạm Quỳnh với câu nói nổi tiếng: “Truyện Kiều còn, tiếng ta còn; tiếng ta còn, nước ta còn” bắt đầu được dùng phổ biến đến nay. Tình trạng này cho thấy nhan đề tác phẩm nổi tiếng của cụ Nguyễn Du đã bị người đời quên lãng và chứng tỏ sự đình trệ của giới nghiên cứu khi không đưa ra được một luận chứng thuyết phục về tên gọi ban đầu của Truyện Kiều. Có thể nói không quá đáng rằng đây là một sự “bất kính” với cổ nhân. Trong tình hình hiện nay, khi mà Thi hào Nguyễn Du, nhà văn hóa, tác giả Truyện Kiều nổi tiếng của Việt Nam đã được chọn là nhân vật văn hóa do thế giới vinh danh(3) và cả nước đang hướng tới Kỷ niệm 250 năm ngày sinh đại Thi hào Nguyễn Du (1765 – 2015) cũng như đề nghị của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khi phê duyệt Dự án “Phục nguyên văn bản Truyện Kiều được đồng thuận cao” của Hội Kiều học Việt Nam(4) thì việc phục hồi lại nhan đề gốc của Thi hào Nguyễn Du càng nên được chú trọng và tìm hiều lại một cách khoa học.

Theo tục truyền, sau khi Nguyễn Du viết xong bản thảo Truyện Kiều, cụ đã đưa cho thân hữu là Phạm Quý Thích (1760 – 1825) đọc và sau khi cụ Phạm đọc xong đã khen ngợi rồi xúc cảm viết bài thơ đề tựa (thường ghi là Đề từ, Thi vân ở các bản Nôm) và đem khắc in lần đầu tiên. Thật ra bài thơ này không phải là bài đề tựa Truyện Kiều mà chỉ là bài thơ cảm tác mang tên Thính đoạn trường tân thanh hữu cảm(5) của Phạm Quý Thích do đó không phải là bài thơ đề tựa cho bản khắc in từ cụ Phạm Quý Thích. Trước hay sau khi cụ Nguyễn Du qua đời, không hề có một bản khắc in Phạm Quý Thích nào cả, điều này cũng được nhà Kiều học Đào Thái Tôn chứng minh và khẳng định(6). Nhưng chính từ bài thơ này, người đời sau dựa vào mấy chữ đoạn trường tân thanh rồi tin rằng đây chính là nhan đề gốc do Nguyễn Du đặt, chẳng hạn như học giả Đào Duy Anh đã từng tin như vậy: “Sách mà ta thường gọi là Truyện Kiều hay là Truyện Thúy Kiều, Nguyễn Du đặt nguyên đề là Đoạn trường tân thanh. Lập Trai Phạm Quý Thích là bạn thân của Nguyễn Du, khi đem khắc bản để in mới nhân nguyên truyện của người Trung Quốc tên là Kim Vân Kiều truyện mà đổi tên là Kim Vân Kiều truyện”(7), hay học giả Hoàng Xuân Hãn cũng đã từng nói: “Có nhẽ cụ Nguyễn Du đặt tên truyện là Đoạn Trường Tân Thanh thực đấy, chứ không phải là Kim Vân Kiều đâu. Kim Vân Kiều là tên của sách Tầu. Rồi sau những người khắc khác, trở lại cái tên cũ của người Tầu và để là Kim Vân Kiều Truyện”(8).

Nếu thật có nhan đề Đoạn trường tân thanh do chính tác giả đặt thì theo ý chúng tôi, không một ai dám tự tiện đặt lại tên (dù đó là người bạn tri kỷ), đáng ngờ hơn nữa là sửa lại bằng một cái tên rất bình thường là “Kim Vân Kiều”. Ngược lại, từ “Kim Vân Kiều” gốc Hán rất dễ bị sửa thành một nhan đề hay và ý nghĩa sâu sắc là “Đoạn trường tân thanh”, nhất là khi tin và dựa vào mấy chữ “đoạn trường tân thanh” từ bài thơ của cụ Phạm Quý Thích. Do đó, tên gọi Kim Vân Kiều truyện không phải như tục truyền do Phạm Quý Thích đổi nhan đề (theo Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim) hay các phường in ở Hà Nội tự tiện đặt ra như nhiều người suy đoán.

Dựa vào bản khắc Liễu Văn Đường 1866, là bản cổ nhất hiện còn lại ta thấy ở dòng cuối cùng của bản LVĐ 1866 đã khắc là Kim Vân Kiều truyện quyển hoàn 金 雲 翹 傳 卷 完 (bản Liễu Văn Đường 1871, bản Thịnh Mỹ Đường 1879… cũng khắc như vậy), ngay cả bản Đoạn trường tân thanh, Kiều Oánh Mậu 1902 ở trang cuối cũng vẫn ghi “Kim Vân Kiều truyện chung” (xem hình)(9). Vậy nhan đề gốc là Kim Vân Kiều Truyện 金 雲 翹 傳 chứ không phải là Kim Vân Kiều tân truyện, nhà tàng bản Liễu Văn Đường đã thêm vào chữ “tân” như hàm ý bản chuyển thể chữ Nôm (từ văn sang thơ) của cụ Nguyễn Du là một bản mới khác với nguyên tác của Trung Quốc. Thông thường khi chuyển thể từ tác phẩm gốc Hán sang Quốc ngữ (chữ Nôm), các nhà Nho vẫn lấy tên gốc rồi có thể thêm vào mấy chữ “tân truyện”, “diễn âm”… chẳng hạn như truyện Nôm Hoa Tiên có tên gốc là Hoa tiên ký hay Đệ bát tài tử Hoa tiên diễn âm là một truyện dài bằng thơ Nôm do Nguyễn Huy Tự phỏng theo ca bản của Trung Quốc có tên là Hoa tiên ký hay Đệ bát tài tử Hoa tiên ký và truyện thơ Nôm Nhị Độ Mai (khuyết danh) đã phỏng theo tiểu thuyết Trung Quốc Nhị Độ Mai còn có tên là Nhị Độ Mai kỳ thuyết, Trung hiếu tiết nghĩa nhị độ mai. Truyện Kiều cũng thế, nguyên truyện Trung Quốc là tiểu thuyết Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳(10) của Thanh Tâm Tài Nhân và tự nhiên cụ Nguyễn Du cũng sẽ đặt nhan đề là Kim Vân Kiều truyện.

Nhà Nho Nguyễn Thắng trong Kim Vân Kiều án(11) vào khoảng 1830 đã từng gọi truyện thơ Nôm nổi tiếng của Nguyễn Du là “Kim Vân Kiều quốc ngữ truyện” (truyện Nôm Kim Vân Kiều), Phan Thúc Trực(12) (1808 – 1852) và Cao Bá Quát(13) (1808 – 1855) (thời Nguyễn), Nguyễn Văn San(14) (1808 – 1883) cũng từng gọi tên như thế và đặc biệt là Nguyễn Hữu Lập, dù khi sao chép và san cải bản Kiều có nhan đề Đoạn Trường tân thanh vào năm 1870, nhưng chính trong bài tựa chữ Hán của Đoạn trường Tân Thanh, Nguyễn Hữu Lập đã viết: “Cận kiến nhân gia Kim Vân Kiều truyện (…) Lương Đường Lập trai Phạm tiên sinh thi: 近 見 人 家 金 雲 翹 傳 (…) 良 堂 立 齋 氾 先 生 詩 (Gần đây đã xem thấy quyển “Kim Vân Kiều truyện” do Lương Đường Phạm Lập Trai đề thơ)(15). Nguyễn Hữu Lập cho biết quyển Kim Vân Kiều truyện này có cả lời bình của Liên Trì Ngư Giả Vũ Trinh và Châu Sơn Tiều Lữ Nguyễn Lượng và đoan chắc truyện này do chính thủ bút của Hồng Sơn Liệp Hộ Nguyễn Du Tố Như ông lưu truyền 50 năm qua. Cụ Phạm Quý Thích sau khi đọc bản thảo chưa in của cụ Nguyễn Du, lúc đó chắc là Kim Vân Kiều truyện nhưng cụ đã xúc động vì nỗi đoạn trường của nàng Kiều mà thực ra cũng chính là nỗi đoạn trường của người tri kỷ, tri âm với mình là tác giả Nguyễn Du nên đã viết thành bài thơ bất hủ Thính đoạn trường tân thanh hữu cảm: Nghe “tiếng thơ” mới quặn lòng mà có xúc cảm. Nhà thơ chỉ cảm động vì nội dung, cái “nỗi đoạn trường” của tập thơ diễn âm mới chứ không phải là cái nhan đề Kim Vân Kiều. Cụ Phạm không dùng chữ “độc” (đọc) mà dùng chữ “thính” (nghe) cũng đủ để cho thấy nhà thơ không phải “đọc” một truyện thơ có nhan đề là Đoạn trường tân thanh. Không có gì bảo đảm là Phạm Quý Thích đã viết chính xác nhan đề Đoạn trường tân thanh. Người đầu tiên gây nên sự ngộ nhận về nhan đề Đoạn trường tân thanh có lẽ là Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân khi xác nhận: “Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh” qua bài tựa Đoạn trường tân thanh viết năm Minh Mạng, bài tựa này lần đầu tiên được Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim công bố nhưng cho đến nay chưa ai tìm thấy bản gốc Đoạn trường tân thanh này ở đâu và có đúng là bài tựa viết cho Truyện Kiều khắc in hay bản thảo vào khoảng năm Minh Mạng? Lạc khoản của bài tựa đề:

“皇朝明命萬萬年之仲春,上浣 僊峰夢蓮堂主人,書于鶴江之嘆花軒” (Ngay đầu tháng Hai, niên hiệu Minh Mạng, viết ở Thán Hoa hiên, Hạc giang. Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân)(16) cũng không xác định năm Minh Mạng (1820 – 1841) thứ bao nhiêu? Nếu Bùi Kỷ – Trần Trọng Kim có trong tay bản cổ nguyên tác quý giá này trước khi cụ Nguyễn Du mất thì tại sao không thấy nhắc đến trong suốt bài tựa (hay ở chú thích) của các cụ trong sách Truyện Thúy Kiều 1925? Đây là một thiếu sót đáng tiếc của các bậc tiền bối khi khảo cứu Truyện Kiều khiến hậu sinh không biết tìm đâu ra để đối chứng! Qua bài tựa của Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân, ta thấy ông xác định Tố Như đã đặt nhan đề là Đoạn trường tân thanh nhưng như đã nghi vấn, khả năng là bài tựa viết khá lâu sau bài thơ Thính đoạn trường tân thanh hữu cảm của Phạm Quý Thích và khi tác giả Nguyễn Du qua đời năm 1820 nên Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân đã ngộ nhận về nhan đề Truyện Kiều qua mấy chữ Đoạn trường tân thanh từ thơ của Phạm Quý Thích. Ngoài ra, còn một tục truyền khác lại cho vua Minh Mạng đã cho đổi tên Kim Vân Kiều truyện thành Đoạn trường tân thanh nữa, theo bản Nôm Kim Vân Kiều truyện 金 雲 翹 傳, ký hiệu V.N.B.60, không rõ niên đại, có đoạn chép tay (bút lông) như sau:

“…Tiên Điền Nguyễn Du diễn xuất quốc âm danh Kim Vân Kiều truyện, phụng Minh Mạng ngự lãm (tứ) (cãi) (vi) Đoạn Trường Tân Thanh (tòng kinh bản dã)…  仙田阮攸演出國音名金雲翹傳,奉明命御覽(賜)(改)(為)斷腸新聲(從京本也)” (… Nguyễn Du ở Tiên Điền diễn ra quốc âm, đặt tên là Kim Vân Kiều truyện, được vua Minh Mạng đọc và (cho) (đổi) (tên) (làm) Đoạn Trường Tân Thanh (đó là theo bản kinh)…)(17). Nếu Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân đã biết vua Minh Mạng cho đổi nhan đề Truyện Kiều, lẽ nào ông tự tiện khi quân khi viết: “Tố Như tử xem truyện, thấy việc lạ, lại thương tiếc đến những nỗi trắc trở của kẻ có tài, bèn đem dịch ra quốc âm, đề là Đoạn trường tân thanh”? Điều này đã chứng minh đoạn văn trong bản Kiều Nôm V.N.B.60 không đáng tin cậy. Như thế, các thông tin này chứng tỏ có sự thay đổi nhan đề gốc do cụ Nguyễn Du đặt.

Bản Nôm sớm nhất hiện còn lại có nhan đề Đoạn trường tân thanh chính là bản chép tay của nhà Nho Nguyễn Hữu Lập 1870 (bản Đoạn trường tân thanh do Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân đề tựa đời Minh Mạng nay không tìm thấy) nhưng như trên đã dẫn chứng, Nguyễn Hữu Lập đã san cải, dựa vào bản thảo chép tay của Nguyễn Du với nhan đề Kim Vân Kiều truyện nhưng ông đã ghi nhan đề cho bản chép tay của mình là Đoạn trường tân thanh có lẽ là vì lúc bấy giờ ở Huế(18) đã quen dùng nhan đề này rồi. Theo Kiều Oánh Mậu đã viết lời tựa “Tân khắc Đoạn trường tân thanh lệ ngôn thập tắc” cho bản in Đoạn trường tân thanh năm 1902 như sau: “Truyện này nguyên tên là Kim Vân Kiều là nhân theo bản của Trung Quốc. Nay bản kinh gọi là Đoạn trường tân thanh”(19), cho thấy từ xưa, nhan đề gốc đúng là Kim Vân Kiều truyện.

Vậy đã rõ, nhan đề khởi thủy của “Truyện Kiều” do chính Thi hào Nguyễn Du đặt là Kim Vân Kiều truyện nhưng khi Truyện Kiều vào Huế, khởi đầu từ bài thơ Thính đoạn trường tân thanh hữu cảm của nhà Nho Phạm Quý Thích mới gây ra ngộ nhận về nhan đề. Có thể một nhà Nho nổi tiếng nào đó lúc ấy đã tự ý đổi nhan đề là Đoạn trường tân thanh hoặc cũng có thể là Tiên Phong Mộng Liên Đường chủ nhân khi xác nhận cụ Nguyễn Du đặt nhan đề là Đoạn trường tân thanh nên người sau mới tin theo như Nguyễn Hữu Lập, Kiều Oánh Mậu...

Nay, chúng tôi là hậu học, sau khi đã tìm hiểu lại ngọn nguồn, xin đề nghị trả lại nhan đề gốc do thi hào Nguyễn Du đặt cho một tuyệt tác thi ca nổi tiếng trong và ngoài nước từ gần 2 thế kỷ qua đó là KIM VÂN KIỀU TRUYỆN 金 雲 翹 傳.

Biên Hòa ngày 11 tháng 7 năm 2014
ĐINH VĂN TUẤN
(SH310/12-14)

…………………………………

1. “Kim Vân Kiều” là sách gì? Chưa nói đến sự tích thiệt không, chưa kể văn chương hay dở, chỉ nhắc  đến cái tên sách thì nghe đã không thể nào ngửi được; vì sao thế? Phàm bộ truyện nào, dầu trong có bao nhiêu nhân vật mặc lòng, chỉ là một người làm chủ nhân: sự tích là sự tích một người chủ nhân ấy, thì tên sách cũng theo đó mà gọi. Nay truyện ấy là sự tích cô Vương Thúy Kiều, mà tên sách đặt ba người: một người thì lấy chữ họ mà mất tên, hai người thì lấy chữ tên mà mất họ, thì thiệt là đốt vô cùng. Cái tên ấy, chắc là tự nhà khắn bản in đặt ra, chứ ông Nguyễn Du chắc không đặt tên dốt như thế? Dù cái tên ấy là nguyên bản của Tàu, là nguyên bản của Tàu thì càng đủ biết rằng truyện ấy đặt ra bởi một anh Tàu dốt nào đó mà thôi.” Ngô Đức Kế, Luận về chánh học cùng tà thuyết, Tạp chí Nam Phong số 86. 1924

2. Thực ra cách gọi “Truyện Kiều” chỉ là khẩu ngữ bình dân, không phải là nhan đề chính thống khi  xuất bản, tên gọi “Truyện Kiều” đã thấy có từ thời Nguyễn Văn San (1808 – 1883) viết trong Quốc văn tùng ký rồi sau Phạm Quỳnh mới dùng đến. Tên gọi truyện “Thúy Kiều” cũng vậy, có trong ca dao: “Làm trai biết đánh Tổ Tôm, Uống trà Mạn Hảo (Chính Thái), xem nôm Thúy Kiều”.

3. Tuyên bố tại kỳ họp thứ 37 Đại hội đồng UNESCO ở Pa-ri (Pháp) ngày 25-10-2013, Nguồn: http://kieuhocvietnam.vn/vi/news/Tin-tuc/Ky-niem-250-nam-ngay-sinh-dai-thi-hao-nguyen-du-1765-2015- Vinh-danh-Dai-thi-hao-dan-toc-Nguyen-Du-36/

4. Công văn Số: 701/BVHTTDL-DSVH ngày 06 tháng 03 năm 2013 nguồn:  http://cinet.vn.

5. Hà Thị Tuệ Thành, Một số tư liệu xung quanh bài thơ “Giai nhân bất thị đáo tiền đường…”, Hội nghị  Quốc tế về chữ Nôm, Huế 2006, nguồn: http://www.nomfoundation.org.

6. Đào Thái Tôn, Nghiên cứu văn bản Truyện Kiều – bản Liễu Văn Đường năm 1871, NXB KHXH  2005.

7. Đào Duy Anh, Khảo luận về Truyện Kiều, Nxb. Văn hóa Thông tin (tái bản), 2007.

8. Thụy Khuê – Hoàng Xuân Hãn, nghiên cứu Kiều, nguồn: http://thuykhue.free.fr.

9. Bản Nôm LVĐ 1866 và KOM 1902 lấy từ nguồn http://nomfoundation.org.

10. Thanh Tâm Tài Nhân, Kim Vân Kiều turyện 金雲翹傳, nguồn: http://www.gutenberg.org.

11. Nguyễn Thắng, Kim Vân Kiều án, nguồn: http://lib.nomfoundation.org.

12. Phan Thúc Trực, Quốc sử di biên, Đỗ Mộng Khương dịch, Hoa Bằng hiệu đính, Nxb. Văn hóa Thông tin, 2009.

13. Vũ Khiêu, Nguyễn Văn Tú, Nguyễn Trác, Hoàng Hữu Yên, Hoàng Tạo (tuyển dịch), Thơ chữ Hán Cao Bá Quát, Nxb. Văn học 1976.

14. Nguyễn Văn San, Quốc văn tùng ký 國文 叢 記 AB.383 từ thư viện gia đình của Maurice Durand, nguồn: http://findit.library.yale.edu

15. Truyện Kiều bản kinh đời Tự Đức 1870 – Đoạn trường tân thanh Nguyễn Quảng Tuân (phiên âm  và khảo dị), Nxb. Văn học 2003.

16. Bùi Kỷ và Trần Trọng Kim (Hiệu khảo), Truyện Thúy Kiều, Vĩnh Hưng Long Thư Quán xuất bản. (in lần thứ hai, chữa lại rất kỹ và rất đúng với bản Nôm cổ) 1927.

17. Trần Văn Giáp, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm tập II, Nxb. Khoa học Xã hội. 1990

18. Chỉ ở Huế mới xuất hiện nhan đề Đoạn trường tân thanh còn ở Hà Nội và miền Nam (Trương Vĩnh Ký, A. Michels) không thấy nhan đề này, chỉ có nhan đề Kim Vân Kiều (tân) truyện thôi.

19. Mười điều lệ ngôn Đoạn trường tân thanh in trong phần phụ lục Truyện Kiều, Nguyễn Thạch Giang Nxb. Đại Học và Trung Học Chuyên Nghiệp 1976.

——————————————————

MINH HỌA TRUYỆN KIỀU (CD1)

Vào khoảng năm 1988, sau giai đoạn soạn nhạc tình cảm là nhạc giao tình giữa con người và con người, nhạc xã hội là loại nhạc nối liền con người vào quê hương đất nước… tôi nghĩ rằng tôi phải soạn nhạc tâm linh là loại nhạc dẫn con người vào cõi tâm. Nếu nhạc tình cảm và nhạc xã hội (qua những hình thức như đoản khúc, chương khúc), phần nhiều là nhạc hiện thực thì nhạc tâm linh sẽ phải là nhạc siêu nhiên, siêu thực hay ẩn dụ (dưới những thể tài tổ khúc, trường khúc). Tôi khởi đầu bằng 10 Bài Rong Ca (1988), Bầy Chim Bỏ Xứ và Hồi Xứ (1990), 10 Bài Thiền Ca rồi Trường Ca Hàn Mặc Tử (1993).

Tới năm 1997-98, tôi bỗng có ý kiến táo bạo là phổ nhạc truyện thơ Đoạn Trường Tâm Thanh tức là truyên Kim Vân Kiều của cụ Nguyễn Du. Tôi cũng muốn kết thúc cuộc đời ca nhân khá dài của mình, bằng một nhạc phẩm lớn, mang cao vọng thăng hoa được con đường dân ca tôi đã chọn từ khi mới nhập cuộc đàn ca.

Tôi chọn Truyện Kiều của Nguyễn Du để làm tác phẩm cuối đời vì thi phẩm này tiêu biểu cho tâm thức Việt Nam trong khi tôi đã giã từ loại nhạc thế tục để đi vào loại nhạc tâm linh. Tôi còn muốn trung thành với lý tưởng điều hợp xã hội bằng âm nhạc cho nên tôi muốn dùng lời thơ vĩ đại của Tố Như và nét nhạc nhỏ nhoi của tôi để làm nơi tự tình cho những ai đã chót lìa nhau, đã chót xa nhau hơn nửa thế kỷ.

Trước hết, tôi đi thăm Trung Quốc, tới những nơi mà cụ Nguyễn Du có thể đã đi qua như Sông Tiền Đường, Hàng Châu, Liêu Dương, Lâm Truy v.v…

Trở về Thị Trấn Giữa Đàng  (Midway City CA), tôi dành nhiều ngày và đêm đọc lại Truyện Kiều. Rồi tôi quyết định Minh Họa Kiều của tôi, vì là on stage music nên sẽ gồm có nhiều cảnh trí (tableau musical) có thể trình diễn trên sân khấu:

a) theo sự tùy hứng chọn lọc, hoặc

b) theo trình tự của truyện Kiều, nghĩa là từ cảnh giáo đầu (prologue) tới cảnh Kiều du xuân, gặp mồ vô chủ  gặp hồn ma Đạm Tiên, rồi gặp Kim Trọng trong Phần Một

Rồi tiến tới Phần Hai là cảnh hai người nhớ nhau, tìm nhau, gặp nhau tới cảnh trao đổi kỷ vật, thề bồi với nhau… cảnh Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe và cảnh Kim Trọng được hung tin phải về Liễu Dương thọ tang.

Qua Phần Ba là cảnh gia biến gây nên bởi sự vu cáo của thằng bán tơ và cảnh một lũ sai nha tới nhà họ Vương lục soát, phá phách và cướp của, Kiều phải bán mình để có tiền chuộc cha. Rồi cảnh Kiều bị Mã Giám Sinh cưỡng hiếp trước khi trao Kiều cho Tú Bà…

Phần Bốn sẽ là những episodes gặp gỡ của Kiều với Thúc Sinh và Từ Hải…

Đoạn kết (epilogue) sẽ là việc Kiều gieo mình xuống sông Tiền Đường…

Tôi chỉ dùng một số câu thơ trong Đoạn Trường Tân Thanh để đưa ra bốn cảnh ngộ của Nàng Kiều. Nhạc phẩm phải được gọi là những bức minh họa — illustration  nghĩa là hiển dương, làm tăng thêm vẻ đẹp sẵn có của thi phẩm, làm cho thơ có thêm mầu sắc, có thêm tầm vóc. Một ví dụ nhỏ là trong thơ, cụ Nguyễn Du chỉ có 6 chữ (hay 8 chữ) để tả cảnh hay tả tình như : Cỏ non xanh ngát chân trời hay Buồn trông cửa bể chiều hôm… thì bây giờ trong nhạc, tôi và con tôi là Duy Cường phải dùng giai điệu và hoà điệu để mô tả cái cánh đồng cỏ non của ngày Xuân ấy… hay tả nỗi buồn của Nàng Kiều trước lầu Ngưng Bích.

Về phần nhạc thuật, trong công việc đưa nhạc Việt Nam từ hình thức đơn điệu (monophonic) lên hình thức đa điệu (polyphonic) mà chúng tôi thử thách trong mười năm qua, bây giờ việc này mới tạm được coi như khá ổn thỏa. Đó là nhờ ở công phu của Duy Cường, trong gần hai năm, đã đi đi về về Việt Nam/USA… để lấy mẫu (sampling) hầu hết các âm thanh của nhạc cụ dân tộc rồi áp dụng vào nhạc phẩm Minh Họa Kiều này. Duy Cường còn thu thanh vài giọng ngâm rất cổ để cho vào tác phẩm cùng với những âm sắc của nhạc cụ dân tộc như đàn tranh, đàn nguyệt, đàn bầu, trống phách… hoà vào âm thanh của các nhạc cụ Tây Phương. Làm công việc giao hưởng gi�

��a lối ngâm xưa và lối hát bây giờ, giữa nhạc cụ cổ truyền và nhạc cụ tân thời, nhất là với khả năng phi thưòng của computer chúng tôi mời người nghe đi ngược dĩ vãng 200 năm rồi đi tới tương lai cũng 200 năm đang tới…

Vì tự thấy mình đã cao tuổi, không có thời gian chờ đợi soạn đầy đủ bốn phần rồi mới cho thu thanh, tôi cho thực hiện ngay đoạn Giáo Đầu và Phần Một của Minh Họa Kiều để ra mắt khán thính giả. Các đoạn này đã do những giọng hát của Ái Vân, Thái Hiền, Thái Thảo, Duy Quang và Tuấn Ngọc trình bày. Phần ngâm thơ do Thanh Ngoan (Hà Nội) và Ái Vân (San Jose) phụ trách.

Đối với tôi, Phần Một tương đối dễ soạn. Trước hết, theo truyền thống nhạc sân khấu, phải có đoạn giáo đầu với mục đích giới thiệu đầy đủ không gian (cánh đồng mùa Xuân), thời gian (Gia Tĩnh Triều Minh) và nhân vật (Vương Quan, Thúy Kiều, Thúy Vân).

Tới Episode Kiều Du Xuân với cảnh ba chị em Thúy Kiều, Thúy Vân, Vương Quan cùng đám đông đi tảo mộ, rồi Kiều gặp một nấm mồ vô chủ. Hỏi mộ của ai thì Vương Quan kể cho chị nghe cuộc đời của Đạm Tiên, vốn là một ca nhi nổi danh tài sắc một thời, làm say đắm biết bao nhiêu khách làng chơi, nhưng kiếp nàng là kiếp hồng nhan, kiếp mong manh, kiếp hoa nửa chừng xuân thoắt gẫy cành… chết đi rồi thì không còn ai nhớ tới nữa. Tôi cố tình nhấn mạnh tới “người khách lạ”, là một nhân vật rất hữu tình trong truyện Kiều.Thúy Kiều cảm thương người xấu số và tiên đoán được phận mình. Nàng đốt hương khấn vái người đã chết, rồi rút trâm vạch lên cây một bài thơ tặng cho người bạc mệnh.

Tột đỉnh của đoạn Kiều Du Xuân là đoạn hồn ma hiện ra. như để tạ tấm lòng tri kỷ của Nàng Kiều. Nhạc từ hiện thực chuyển qua siêu thực. Đạm Tiên đã xuất hiện rồi sẽ biến đi, khiến Kiều hồn thơ lai láng, lại vạch trên cây một bài thơ nữa…

Nhạc trình (marche melodique) xuống dần dần, êm ả dần dần để sẽ kết thúc với việc nàng Kiều gặp chàng Kim.

Như vậy, bố cục âm nhạc trong Phần Một của Minh Họa Truyện Kiều được chia ra ba hành điệu :

* Hành Điệu Một là những hành âm của cuộc du Xuân, khoan thai, trong sáng rồi cuốn nhanh như tiếng cười giòn giã, biểu hiện một thời Xuân của đời Kiều…

* Hành Điệu Hai là sự hoang mang, nghẹn ngào… biểu hiện những xúc động đầu đời về thân phận mình khi Kiều gặp hồn ma Đạm Tiên.

* Hành Điệu Ba là sự trở lại nhạc đề một, êm đềm tươi sáng… khi Kim Trọng xuất hiện ở cuối cuộc du Xuân.

Trong thi phẩm KIM VÂN KIỀU của Nguyễn Du do tôi phổ nhạc, đây là phần duy nhất có phong vị cuộc sống tươi vui trọn vẹn.

Vào chiều thứ Bảy ngày 19 tháng 4 năm 1997, tôi hân hạnh cho ra mắt một phần của bốn bức minh họa truyện Kiều bằng âm nhạc tại nhà tôi.

Sau đó là việc tôi đi lưu diễn nhiều nơi trên thế giới với Phần Một của nhạc phẩm này. Đó là tại những thị trấn như Vancouver-CANADA, London- ENGLAND, Amsterdam-NETHERLAND, tại thành phố Saint Paul-MINNESOTA, Hamburg-GERMANY v.v…

MINH HỌA TRUYỆN KIỀU (CD2)

Phần Hai của MINH HOA KIỀU đã được tôi khởi soạn ngay trong những ngày tôi đem Phần Một đi phổ biến trên thế giới. Tôi còn nhớ đã ngồi trước piano để viết đoạn Người Đâu Gặp Gỡ Làm Chi tại nhà anh Đỗ Xuân Kiên ở London vào tháng 7 năm 1997, rồi tiếp tục soạn những đoạn sau tại nhà anh chị Lê Tất Luyện ở Paris. Rồi trong thực tế, tôi đã hoàn tất Phần Hai vào năm 1998, trong khi Duy Cường đang ở Việt Nam và đã thu thanh xong một số điệu hát, điệu ngâm của cô Thanh Ngoan để dùng trong nhạc phẩm này.

Chúng tôi đang dự định thu thanh Phần Hai thì vào đầu năm 1999, bỗng nhiên xẩy ra vụ nhà tôi bị ung thư phổi. Trong suốt 8 tháng trời, ngày và đêm, cả gia đình tôi thay phiên nhau lo việc săn sóc cho người bệnh. Rồi vào cuối tháng 8 năm 1999 thì nhà tôi mất.

Vừa chôn vợ xong, tới phiên tôi phải vào bệnh viện Long Beach để mổ tim. Cả tâm hồn lẫn thể xác tôi bị suy sụp nặng nề. Sau đó tôi không còn tha thiết đến sự sống nữa, nói chi tới chuyện nghệ thuật…

Dù mang nỗi buồn khó nguôi… tôi thấy rằng tôi cũng phải hoàn tất Phần Hai của MINH HỌA KIỀU. Tôi là người xưa nay rất coi trọng chữ TÍN. Phần này đã soạn xong thì phải thu thanh. Thu thanh xong rồi, có thể cũng không cần phải ra mắt quần chúng.

Như đã nói, Phần Một là phần Kiều gặp Đạm Tiên, tức là gặp số phận mình, số phận của những người tài hoa bạc số. Phần này dễ soạn. Phần Hai là phần Kiều gặp Kim Trọng, nghĩa là gặp tình yêu, nhưng là tình yêu không trọn vẹn. Từ khi nhớ nhung nhau, đi tìm nhau cho tới khi gặp nhau, tỏ tình với nhau, đôi người tình này không hề nắm tay nhau, kề vai nhau, ôm hôn nhau… thì khó cho tôi quá trong việc diễn tả ra bằng âm nhạc.

Tôi đành phải soáy vào việc đánh đàn của Kiều khi Kim Trọng ngỏ ý muốn nghe nhạc. Bốn khúc nhạc mà cụ Nguyễn Du chỉ cho chúng ta 4 cái tên là : Hán Sở Chiến Trường, Tư Mã Phượng Cầu, Kê Khang, Chiêu Quân thì bây giờ tôi — và nhất là Duy Cường — phải tạo ra bốn nhạc khúc đó. Phần Hai do đó không phải là nhạc tả cảnh, tả tình như trong Phần Một mà là nhạc tỏ tình, tỏ tài… Là nhạc tài tình chăng?

Mở đầu cho Phần Hai là cảnh hai người nhớ nhau, tìm nhau và gặp nhau.

Rồi tới cảnh Kiều tới thư phòng của Kim Trọng để tự tình, trao đổi kỷ vật, thề bồi với nhau…

Cảnh Kiều đánh đàn cho Kim Trọng nghe và cảnh Kim Trọng được hung tin phải về Liễu Dương thọ tang.

Bố cục âm nhạc trong Phần Hai của Minh Họa Truyện Kiều cũng được chia ra ba hành điệu :

* Hành Điệu Một là những hành âm của cuộc đi tìm tình yêu của đôi người tình trẻ…

* Hành Điệu Hai là sự thổ lộ tài hoa của Kiều khi gặp người yêu…

* Hành Điệu Ba là sự trở lại nhạc đề một, đậm đà nhưng phần nào cay đắng khi hai người phải chia tay nhau…Tôi lại đem

Phần Hai của Minh Họa Kiều đi diễn tại Santa Ana, CALIFORNIA-USA, Saint Paul, MINNESOTA-USA, tại Paris-FRANCE, tại Tokyo-JAPAN, San Jose, CALIFORNIA-USA, Oklohama City, OKLOHAMA- USA, Orlando, FLORIDA-USA, Toronto, CANADA, Atlanta, GEORGIA và Washington D.C-USA…

MINH HỌA TRUYỆN KIỀU (CD3)

Sau khi nhà tôi mất, sau khi tôi bị mổ tim (1999), tôi không còn thiết tha gì với âm nhạc nữa, tôi dìm tôi vào một nỗi buồn sâu thẳm tưởng như không bao giờ có thể nguôi ngoai… Nhưng tôi đã không ngăn được tôi là phải hoàn tất Minh Họa Truyện Kiều. Kiều Hai đã soạn xong, đã được tôi đem đi phổ biến tại nhiều nơi trên thế giới…

Và sau khi tôi trở về thăm quê hương (năm 2000) thì tôi như người hồi sinh, sẵn sàng để vật lộn với Kiều Ba.

Vào đầu Xuân năm 2000, đúng như tôi đã hứa qua bài Rong Ca số 2 – Hẹn Em Năm 2000 – soạn trong năm 1982… tôi leo lên máy bay trở về quê hương. Tính ra tôi đi đi, về về Việt Nam tới 9 lần, và cho tới năm 2005 thì tôi quyết định từ biệt Hoa Kỳ để về sống hẳn ở quê hương.

Trong đời tôi, cứ mỗi lần khổ đau, lạc lối, tôi lại tìm về quê hương, tưởng tượng như đang đắm mình trong dòng suối quê, lòng lắng xuống, lắng nghe lại tiếng gọi nhiệm mầu của thiên thu trong tâm hồn mình, và tiếng gọi nhiệm mầu ấy lại réo rắt ru tôi, vỗ về tôi trong tình yêu bất tuyệt, phả cho tôi niềm tin yêu, sức sống để cho tôi hồi phục, để cho tôi hồi sinh.

Thế là sau 30 năm bỏ nước ra đi, dù tôi mới chỉ là về thăm quê hương vài lần thôi, nỗi buồn trong tôi dần dần tan đi, quê hương như một liều thuốc bổ làm tôi thấy yêu đời trở lại…

Vào năm 2003 tôi cầm đàn, cầm bút trở lại và quyết tâm tiếp tục soạn nốt Kiều Ca. Tôi muốn Phần Ba sẽ là sự diễn tả cuộc đời điêu đứng của nàng Kiều.

Mở đầu là cảnh Cơn Gia Biến, vì có lời vu oan giá họa của thằng bán tơ khiến cho Vương Ông và Vương Quan bị bắt và Kiều phải bán mình để chuộc tội cho cha và cho anh.

Tới episode Tấm Lòng Kiều thì đó là đó là cảnh nàng Kiều ngồi khóc than trong đêm. Thúy Vân tới hỏi han thì Kiều kể chuyện đã thề bồi với chàng Kim, nay vì gia cảnh mà thất hứa với người tình. Kiều mời Thúy Vân ngồi xuống cho chị lạy em, nhờ em thay chị kết duyên với Kim Trọng.

Rồi tới màn Đã Bén Tay Phàm là cảnh Kiều bị thất thân với Mã Giám Sinh và tới cảnh Tú Bà, trong đó, Kiều bị đánh lừa, đánh đập và phải hành nghề trong nhà thanh lâu…

Sau những biến cố rồn rập tới với nàng Kiều là đoạn Lầu Ngưng Bích với nỗi buồn của một phụ nữ bị lâm vào cảnh oan nghiệt…

Phần này khác với hai phần trước ở chỗ có nhiều chuyện, có nhiều nhân vật, nhiều tình tiết trong khi Phần Một và Phần Hai chỉ là chuyện giữa hai người hoặc Kiều và Đạm Tiên, hoặc Kiều và Kim Trọng.

Về phần nhạc ngữ thì ở đây không còn là nhạc tả cảnh hay tả tình thuần túy mà mang tính chất nhạc sân khấu với nhạc đối thoại. Những cao trào đua nhau hiện ra rồi ngưng nghỉ ở một đoạn thoái trào nghĩa là trong căng thẳng cũng phải có lúc nguôi ngoai, trong khổ đau cũng phải có lúc hạnh phúc dù hạnh phúc đơn sơ đến mấy.

Thêm vào các ca sĩ quen thuộc của Minh Họa Kiều là một giọng hát có diễn tả của Anh Dũng trong vai Mã Giám Sinh. Vai Tú Bà cũng cần một ca sĩ của sân khấu nhưng vì chúng tôi chưa tìm được ai hát vai đó, cho nên đành phải nhờ Ái Vân.

Sau khi ra mắt tại báo Người Việt, tôi lại tiếp tục đi vài nơi trên thế giới như Westminster, Ca-USA, Connecticut, MA-USA, New York City, NY-USA, Berkeley-California, Toronto, Canada, Sydney Australia v.v…

Tham khảo:

  1. Nhan đề gốc của “Truyện Kiều” – TẠP CHÍ SÔNG HƯƠNG – Só 310 (T.12-14)
  2. Kiều ca – namphong0612
  3. Lời giới thiệu chương trình « Minh Họa Kiều 1 & 2 »
  4. Chi tiết chương trình « Minh Họa Kiều 1 & 2 »
  5. Hình ảnh « Minh Họa Kiều 1 & 2 »

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.

%d bloggers like this: